going to be A Professional Education Consultant!
Education Consulting
Cách hiểu đúng về điện toán đám mây
Mar 28th
Điện toán đám mây (cloud computing) không phải là một công nghệ mà là một mô hình cung cấp và tiếp thị dịch vụ CNTT đáp ứng các đặc trưng nào đó.
- Cơ sở hạ tầng được chia sẻ.Nhiều khách hàng chia sẻ một nền tảng công nghệ chung và thậm chí là một ứng dụng đơn lẻ.
- Các dịch vụ này được truy xuất theo yêu cầu tại các đơn vị khác nhau tùy theo dịch vụ. Các đơn vị có thể là người sử dụng, dung lượng, giao dịch hoặc bất kỳ sự kết hợp nào từ chúng.
- Các dịch vụ được mở rộng. Từ quan điểm người dùng, các dịch vụ thì linh hoạt; không có giới hạn cho sự phát triển.
- Mô hình giá cả là do tiêu thụ. Thay vì thanh toán các chi phí cố định của một dịch vụ có quy mô để sử dụng tối đa, bạn trả một cái giá tham chiếu trên một đơn vị tiêu dùng (người sử dụng, các giao dịch, dung lượng…) được đo trong những khoảng thời gian có thể khác nhau, theo giờ hoặc tháng chẳng hạn.
- Dịch vụ có thể được truy xuất từ bất cứ nơi nào trên thế giới bởi nhiều thiết bị.
Mô hình đám mây dẫn đến 2 loại cơ bản khác nhau của các đám mây: riêng (private) và công cộng (public). Những đám mây công cộng cung cấp các dịch vụ CNTT cho mọi khách hàng trên Internet. Đám mây riêng cung cấp dịch vụ CNTT cho một nhóm được xác định trước của khách hàng, có quyền truy xuất thông qua Internet hoặc mạng riêng.
Bạn có thể cũng đã nghe về các đám mây trong và ngoài. Lúc trước là một nhóm nhỏ của những đám mây riêng, và cung cấp dịch vụ trong cùng một công ty hay nhóm các công ty. Về sau có thể là công cộng hay riêng và cung cấp các dịch vụ cho các công ty khác.
Hiểu để ứng dụng
Dịch vụ CNTT được cung cấp qua đám mây được nhóm lại thành 3 dạng: Cơ sở hạ tầng như một dịch vụ (Infrastructure as a Service – IaaS); Nền tảng như một dịch vụ (Platform as a Service – PaaS); và Phần mềm như một dịch vụ (Sotware as a Service – SaaS).
IaaS cung cấp môi trường xử lý (các máy chủ, lưu trữ, cân bằng tải, tường lửa). Những dịch vụ này có thể được thực hiện thông qua các công nghệ khác nhau, ảo hóa là một trong những công nghệ phổ biến nhất, ngoài ra có thể là công nghệ tính toán lưới (grid computing) hoặc chuỗi (cluster)…
PaaS cung cấp môi trường để phát triển và chạy các ứng dụng. Chứng thực, uỷ quyền, quản lý phiên và siêu dữ liệu cũng là một phần của dịch vụ này.
SaaS là mô hình đám mây tiên tiến và phức tạp nhất. Các dịch vụ phần mềm cung cấp các chức năng mà giải quyết cho người dùng các vấn đề, cho dù đó là người dùng đơn lẻ hay một nhân viên của một công ty. Một số ví dụ về các giải pháp hiện đang được cung cấp theo mô hình SaaS bao gồm: doanh nghiệp thông minh (business intelligence – BI), hội nghị Web (Web conference), e-mail, bộ ứng dụng văn phòng…
Những lợi ích của mô hình này là rõ ràng và rất hấp dẫn: truy xuất vào một dịch vụ dễ dàng, loại bỏ các khoản đầu tư, hoãn một số chi phí và loại bỏ những thứ khác, tăng tính linh hoạt của CNTT, tăng khả năng di động cho người dùng và cải thiện tính sẵn sàng của dịch vụ.
Tuy nhiên, vì tính mới lạ của mô hình, có một số khía cạnh chưa được giải quyết, và như trong tất cả các môi trường làm việc, có những rủi ro mà phải được tính đến khi đánh giá thế nào, khi nào và vì cái gì để áp dụng công cụ mới này vào lĩnh vực CNTT của các công ty.
Triển khai điện toán đám mây
Hiện việc triển khai mô hình điện toán đám mây chưa cung cấp các hợp đồng đầy đủ về mức độ dịch vụ hoặc các công cụ kiểm soát của chúng. Chúng không cung cấp quá trình kiểm định an toàn hoặc quy định cho việc lưu trữ và sao lưu dữ liệu khách hàng được quản lý và lưu trữ trong mây. Chúng cũng không cung cấp giao diện tích hợp một cách rõ ràng và ổn định theo thời gian, giữa các dịch vụ lấy từ mây và dịch vụ của riêng công ty.
Giống như bất kỳ công cụ nào, điện toán mây không phải là hoàn hảo, cũng không phải là áp dụng trong tất cả các thiết lập và nó không thể được thực hiện chỉ qua một đêm. Nó đòi hỏi một quá trình đánh giá các lợi ích và rủi ro, một kế hoạch với từng giai đoạn thực hiện, và xác định một quá trình cải tiến liên tục cho giai đoạn sản xuất.
Căn cứ vào những ưu khuyết điểm đã được đề cập, các dịch vụ đám mây là một chọn lựa đúng đắn, trong thời kỳ đầu tiên, cho các doanh nghiệp để triển khai các đám mây riêng bằng cách sử dụng IaaS, để thử nghiệm các môi trường hoặc phát triển ứng dụng với dịch vụ PaaS và cho các ứng dụng khép kín, chẳng hạn như hội nghị Web trong dịch vụ SaaS.
Trong khi mô hình điện toán mây đưa ra các lựa chọn mới cho người sử dụng, nó cũng đòi hỏi thay đổi đáng kể từ các nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ CNTT.
Các công ty cung cấp phần cứng, phần mềm và dịch vụ sẽ phải đối mặt với 2 thách thức đồng thời. Đầu tiên là phát triển hoặc thích ứng với sản phẩm, quy trình và các công cụ của họ để tiếp thị và cung cấp mô hình mới này. Thứ hai, và có lẽ là khó nhất, là thay đổi cơ cấu bán hàng và hỗ trợ của họ, và trong một số trường hợp, các thị trường mục tiêu của họ là tốt, nhằm đáp ứng sự năng động của môi trường mới.
Đối với các công ty kinh doanh phần cứng và phần mềm thông thường, sự thay đổi chính sẽ là ở cấp độ của thị trường mục tiêu của chúng: trong mô hình điện toán mây người tiêu dùng công nghệ không còn là các công ty tài chính, công nghiệp hay tổ chức nhà nước (mà đã trở thành người sử dụng), mà là các công ty cung cấp dịch vụ CNTT.
Đối với các công ty bán ứng dụng, tác động sẽ diễn ra trong cơ cấu bán hàng và hỗ trợ, vì họ cần phải thay đổi từ việc bán giấy phép sang bán và hỗ trợ dịch vụ.
Cuối cùng, các công ty cung cấp dịch vụ CNTT sẽ phải tích hợp truyền thông với các dịch vụ của họ 100%, điều chỉnh danh mục đầu tư của họ đối với các dịch vụ đám mây, trong đó họ quyết định tham gia (IaaS, PaaS hay SaaS), điều chỉnh doanh số bán hàng, phân phối và quy trình thanh toán của họ cho mô hình theo yêu cầu, và phát triển các cơ chế tích hợp cần thiết giữa phạm vi CNTT của khách hàng và các đám mây để phát triển mô hình một cách hợp lý.
Do quy mô và độ phức tạp của những thay đổi rồi sẽ diễn ra, nếu có một vài khởi đầu sai sót thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Điều quan trọng là phải lập ra được kế hoạch, hiểu biết ở mỗi bước để đối mặt với những thách thức và phải đánh giá được các rủi ro, và hãy bắt đầu phương thức mới, đừng trì hoãn, nhằm mục đích đem đến hiệu quả kinh doanh, mang lại lợi nhuận nhiều hơn.
Theo PC World VN.
Sáng tạo: Gốc rễ thành công của Harvard
Feb 11th
Lối suy nghĩ độc đáo, sáng tạo là “nguồn tài nguyên” chủ đạo tại Harvard. Những ý tưởng sáng tạo mang tính thực tiễn cao tại Harvard cũng đang ngày càng tìm được chỗ đứng vững chắc trên thế giới.
Đổi mới và sáng tạo trở thành gen đặc trưng của Harvard
Tại Harvard, sự kết hợp bền chặt giữa yêu cầu vận động trí óc, lòng nhiệt huyết và sự tìm tòi tri thức để giải quyết những vấn đề khó khăn nhất của xã hội đã thúc đẩy tính sáng tạo cao độ, đưa tới kết quả là sự ra đời một luồng gió đổi mới, đem lại những hiệu quả xuất sắc cho công chúng.
Suy nghĩ sáng tạo đã trở thành yếu tố chủ chốt của hệ thống trường học, trung tâm đào tạo và các học viện trực thuộc Harvard. Người ta đã chứng kiến rất nhiều đổi mới ở Harvard, bắt nguồn từ cách nhìn mới với những vấn đề cũ kĩ tồn đọng, từ việc nhận thức rõ rệt tầm quan trọng của những kết quả phần nhiều mang tính ăn may, và từ việc hiểu rõ thất bại chỉ là bước đi để tới gần hơn với thành công. Tinh thần đổi mới và sáng tạo ấy từ lâu đã ăn sâu vào “ADN của Harvard”, đưa tới sự ra mắt của kĩ thuật gây mê đầu tiên trong lịch sử ở bệnh viện Massachusetts General Hospital năm 1846 và sự phát triển của máy điều hòa nhịp tim (với công lao rất lớn của Paul Zoll) vào những năm 50 của thế kỉ XX.
![]()
Tại Harvard, sự kết hợp bền chặt giữa yêu cầu vận động trí óc, lòng nhiệt huyết và sự
tìm tòi tri thức để giải quyết những vấn đề khó khăn nhất của xã hội đã thúc đẩy tính sáng tạo cao độ.
Chủ tịch đương nhiệm của ĐH Harvard Drew Faust đã nhấn mạnh vai trò của ngôi trường đại học khi bà nhậm chức, không quên nói thêm rằng Harvard mang trách nhiệm rất lớn đối với tương lai của xã hội. Bà chia sẻ: “Một trong những điều tuyệt nhất ở môi trường nghiên cứu của chúng tôi là những ngôi trường chính là những động cơ tuyệt hảo sản xuất ra cả nhiên liệu – những nhà khoa học, vật lý học, các kĩ sư, những triết gia và cả những ý tưởng tuyệt vời, làm mới nền kinh tế với những sản phẩm mới, công việc mới và những công ty mới mà họ mang lại.”
Thực vậy, Đại học Harvard thúc đẩy không chỉ lối tư duy đổi mới, mà còn tác động mạnh mẽ tới sức phát triển không ngừng của những ý tưởng lớn, tạo ra những sản phẩm mới, công ty mới kèm theo giải quyết vấn đề việc làm. Học việc Kĩ thuật sinh học Wyss tập trung vào việc ứng dụng những đột phá trong phòng thí nghiệm vào trong các ngành công nghiệp. Trường kinh doanh Harvard (Harvard Business School – HBS) cũng đã lên kế hoạch cho “Phòng thí nghiệm đổi mới” nhằm thúc đẩy sự sáng tạo và tư duy doanh nhân dành cho sinh viên và nghiên cứu sinh cao học.
Trung tâm Phát triển kĩ thuật (The Office of Technology Development – OTD) đóng vai trò thiết yếu trong công tác dịch vụ cộng đồng của trường Harvard, với vai trò giúp ứng dụng công nghệ vượt ra khỏi 4 bức tường của phòng thí nghiệm để thâm nhập thị trường, nơi những thành quả thí nghiệm được sử dụng trong thực thế. Trung tâm này cung cấp các nguồn lực để phát triển công nghệ mới vốn là yếu tố có sức hút rất lớn đối với các doanh nghiệp tư nhân. Các phát minh đã được đăng kí bằng sáng chế và đang ngày càng được lĩnh vực thương mại quan tâm, từ công nghệ Nano sử dụng trong bộ nhớ máy tính và công nghệ ADN, cho tới chủng ngừa bệnh bạch cầu mèo đều đã có trên thị trường; từ chủng ngừa bệnh tả trong thử nghiệm lâm sàng cho tới công nghệ điều khiển bằng chất lỏng tầm vi mô được dùng trong công nghiệp mỹ phẩm.
Các phòng thí nghiệm tại Harvard đã cho ra đời những kết quả vượt trội, đưa đến sự ra đời hàng loạt những công ty ứng dụng các kết quả đó, như RainDance Technologies, SiOnyx, và kể cả Le Whif – công ty của Giáo sư kĩ thuật sinh học David Edwards với ứng dụng kĩ thuật sản xuất “thức ăn” thưởng thức bằng … mũi – breathable food. (Với Breathable food, người ta có thể thưởng thức chocolate, coffee và cả vitamin bằng cách… hít vào, không cần nhai mà vẫn thưởng thức hương vị, và đặc biệt không thêm bất cứ đơn vị calories nào vào cơ thể – PV) . Nhà hóa học George Whitesides cũng là một trong những người sáng lập của vài công ty, trong đó có Surface Logix, công ty sản xuất thuốc chữa tiểu đường và béo phì; công ty công nghệ Nano Nano Terra, và Diagnostics for all, tổ chức phi lợi nhuận với nhiệm vụ đảm bảo cung cấp đủ thiết bị chẩn đoán y khoa ở những nơi còn thiếu thốn.
Những người đặt nền móng kĩ thuật cho sự ra đời của các công ty và sản phẩm mới chia sẻ rằng, mặc dù Đại học Harvard đôi khi được nhìn nhận như một môi trường học tập thuần túy và đơn điệu, trên thực tế chính sự tự do trong học thuật đã là chất xúc tác cho lối suy nghĩ để giải quyết các vấn đề, nhờ những con người tò mò, thông minh và có động lực lớn, và tất cả đã tạo nên một “hệ sinh thái sáng tạo” ở Harvard.
David Weitz, Giáo sư vật lý ở Harvard, chia sẻ: “Tôi quan sát được nhiều sự sáng tạo ở đây hơn bất cứ đâu trong nền công nghiệp”. Giáo sư Weitz đã từng làm việc cho 1 công ty tư nhân trong 17 năm trước khi tới Harvard. “Bạn có những sinh viên tài năng và một môi trường linh hoạt. Harvard là một nơi lý tưởng dành cho bạn thực hiện bất cứ điều gì bạn muốn – miễn là bạn thực hiện tốt điều đó”.
Một vài ý tưởng khởi nguồn từ phòng thí nghiệm của giáo sư Weitz được đánh giá là có tiềm năng thương mại, và quả thực đã đưa tới sự ra đời của một số công ty. Trong tình hình kinh tế khó khăn, Weitz chia sẻ, ông tự hào hơn cả về việc đã góp sức tạo ra khoảng 100 việc làm. Công ty lớn nhất trong số những công ty được thành lập là RainDance Technologies, với 75 lao động, đã thông báo vào ngày 25/1 vừa qua số vốn huy động được của mình là 37.5 triệu đô-la. RainDance tập trung vào phát triển công nghệ y tế cho phép tiến hành các phản ứng hóa học trong các giọt. Mỗi giọt đóng vai trò như một ống nghiệm nhỏ, nhưng sử dụng ít hóa chất hơn, và tốc độ thử nghiệm cũng nhanh hơn.
Đổi mới và sáng tạo có thể dạy được
Kể từ năm 2006, các khoa, trường trực thuộc Harvard đã giúp sức thành lập 39 công ty. Số lượng phát minh mới được báo cáo đã tăng từ 180 vào năm 2006 lên tới 301 vào năm 2010. Hàng trăm bằng sáng chế đã được cấp, và 134 giấy phép đã được cấp cho các công ty ứng dụng công nghệ mới do Harvard sáng chế ra, mang lại 77 triệu đô-la cho ngôi trường danh tiếng này – phần lớn trong số đó được tiếp tục đầu tư vào những nghiên cứu sâu hơn. Ước tính năm 2009 những công ty có sự giúp đỡ về công nghệ hay “khởi nguồn” từ Harvard đã cung cấp cho nền kinh tế 7.500 việc làm chỉ tính riêng tại Boston và khu vực lân cận.
Sáng tạo thường bắt nguồn từ sinh viên Harvard, những người đặt trí tưởng tượng của mình vào những bài tập trên lớp, sáng tạo nên những sản phẩm mới. Ví dụ như VertiGrow, một mô hình trồng cây theo chiều dọc ứng dụng đặc biệt cho khu vực đông đúc, cung cấp phương án giải quyết vấn đề dinh dưỡng ở những khu ổ chuột của các nước đang phát triển. VertiGrow, đã giành giải thưởng Sáng tạo do Hiệp hội sáng kiến y tế toàn cầu Harvard trao tặng, đã đưa nhà phát minh Elizabeth Nowak tới châu Phi để nghiên cứu sâu hơn. Đó là 1 ví dụ cho những ý tưởng thú vị bắt nguồn từ những sinh viên Harvard.
Trái ngược với những suy nghĩ thông thường, đổi mới và sáng tạo có thể được “dạy”. Và tốt hơn là nó có thể dạy được cho người khác, trích lời Peter Tufano, giáo sư Quản trị tài chính tại HBS và sắp trở thành trưởng khoa tại Oxford University’s Saïd Business School, bởi vì đó là chìa khóa để thành công trong thương trường.
Còn theo Cherry Murray, đã từng có vài bằng sáng chế và là chuyên gia có kinh nghiệm của Bell Laboratories, cái gốc rễ của đổi mới nằm ở sự sáng tạo. Bà đã học được từ rất nhiều năm trước, khi quan sát mẹ mình dạy hội họa, rằng mỗi đứa trẻ đều sáng tạo theo 1 cách nào đó. Mục tiêu của Harvard là bồi dưỡng cho những mầm non sáng tạo ấy.
“Những đứa trẻ bình thường đều rất sáng tạo” – Murray phát biểu. “Tôi không nghĩ rằng chúng ta cần phải dạy chúng. Chúng ta cần tạo điều kiện cho sự sáng tạo ấy được phát triển thêm” . Harvard cũng mới thành lập Trung tâm Kĩ thuật và Doanh nghiệp, hỗ trợ các dự án của sinh viên và cung cấp lời khuyên hữu ích cho những kế hoạch đổi mới.
Một ví dụ nữa là CS50. Ra đời cách đây 27 năm, CS50 là khóa học khoa học máy tính phổ biến không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản về lập trình, mà còn buộc sinh viên phải tự tạo ra sản phẩm riêng, mà đôi khi mang lại những kết quả vượt trội. Triển lãm sản phẩm cuối kì, tổ chức vào tháng 12 hàng năm, là cơ hội để các sản phẩm được trưng bày trước hàng trăm khoa, viện, sinh viên, nhân viên và các nhà đại diện công ty. Vì thế, khóa học tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên có thể tiếp tục nghiên cứu sản phẩm ngay cả sau khi khóa học kết thúc.
![]()
Sinh viên Harvard thường được khuyến khích sáng tạo, đối mới, dám nghĩ dám làm,
dù đôi khi sáng tạo đi vào… ngõ cụt.
“Đó là 1 trong những môn học làm thay đổi cuộc đời tôi” – giảng viên David Malan chia sẻ. Ông đã tham dự khóa học CS50 khi còn là sinh viên vào năm 1996 và thay đổi chuyên ngành từ lĩnh vực chính trị sang khoa học máy tính. “Sau CS50, tôi biết tôi thực sự muốn học cái gì. Bạn sẽ thực sự cảm thấy hài lòng với bản thân khi đắm mình trong một thế giới mới và nhận ra những điều có thể làm được”.
Eric Mazur, giáo sư dạy Vật lý và Vật lý ứng dụng, cho rằng việc dạy khoa học nên được thiết kế lại. Hầu hết những hướng dẫn theo cách truyền thống yêu cầu sinh viên phải nhớ kiến thức và giải quyết các vấn đề, nhưng theo giáo sư Mazur, cách giải quyết vấn đề được dạy trong trường đại học không hề giống trong cuộc sống thực. Ông chia sẻ: “Ở trong lớp học, vấn đề cốt lõi là bạn có tìm ra đáp án đúng hay không. Còn ở bất cứ vấn đề trong cuộc sống thực, bạn hầu như đã biết đáp án rồi. Cái cốt lõi ở đây là bằng cách nào bạn đạt được cái đích ấy”.
Sáng tạo thực sự không phải là một con đường thẳng
Sáng tạo và đổi mới bắt nguồn từ khả năng có thể ứng dụng những suy nghĩ mới mẻ vào các hoàn cảnh khác nhau. Để dạy điều này, Mazur khuyến khích sinh viên thử những cách tiếp cận mới mà không lo lắng tới kết quả (chí ít là trong giai đoạn đầu). Những kinh nghiệm như vậy, theo ông, có thể không có lợi cho những ai chú trọng quá nhiều tới kết quả, nhưng sự khám phá thường đưa tới những ý tưởng mới với hướng nghiên cứu độc đáo hơn. Ông phát biểu: “Sáng tạo thực sự không phải là một con đường thẳng. Nó đi sang trái, phải hay đôi khi đâm vào ngõ cụt. Trong thế giới luôn đòi hỏi sự tối ưu này, chúng tôi muốn sinh viên không chỉ có khả năng tái sản xuất những thứ chúng tôi đã tạo ra, mà còn phải hơn hẳn chúng tôi và đưa sự phát triển lên tầm cao hơn”.
Hiệu trưởng ĐH Harvard Drew Faust: “Một trong những điều tuyệt nhất ở môi trường nghiên cứu của chúng tôi là những ngôi trường chính là những động cơ tuyệt hảo sản xuất ra cả nhiên liệu…” |
Việc tìm kiếm những cách nhìn mới cho những vấn đề cũ là một trong những nỗ lực của những dự án mới nghiên cứu về tiểu đường. Trường Harvard đã tổ chức cuộc thi tìm kiếm ý tưởng mới, và tháng 12 vừa rồi, 12 người thắng cuộc đã được chọn ra, và được tài trợ cho công việc nghiên cứu của họ.
Mặc dù cuộc thi có vẻ giống như một hướng tiếp cận mới, theo giáo sư Eva Guinan, giám đốc chương trình Harvard Catalyst Linkages, phương pháp đó bắt nguồn từ những giải thưởng trước đây trong lịch sử để tìm ra lời giải cho những gút mắc còn tồn đọng. Ưu điểm của phương pháp này, là thu nhập ý kiến của rất nhiều người, với những nền tảng kiến thức và góc nhìn khác nhau. “Chúng tôi có một cộng đồng đặc biệt xuất sắc với sức sáng tạo dồi dào. Thật lãng phí nếu không tận dụng chính những thứ mình đang có”. – Guinan chia sẻ.
Một cách khác để thúc đẩy sự đổi mới là khuyến khích những nghiên cứu mạo hiểm, có tiềm lực. Học viện kĩ thuật sinh học Wyss đã áp dụng cách đó để nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và môi trường. Học viện này được thành lập 2 năm trước nhờ sự tài trợ 125 triệu đô la từ doanh nhân Hansjörg Wyss. HIện nay học viện có hơn 230 nhân viên. Kết hợp làm việc với học viện là các chuyên gia phát triển sản phẩm, những người giúp đỡ các nhà nghiên cứu tại Wyss cải tiến kĩ thuật mới đạt đến tầm ứng dụng được cho các doanh nghiệp tư nhân.
Giám đốc Wyss, Don Ingber, phát biểu: “Chúng tôi khác với các học viện khác. Chúng tôi không phải là một học viện nghiên cứu, mà tập trung nhiều hơn vào đổi mới và chuyển giao kĩ thuật.”
Các dự án đang được triển khai tại Wyss được thiết kế tạo điều kiện cho các nhân viên đến từ các phòng thí nghiệm khác nhau ở Harvard được làm việc cùng với nhau. Họ làm việc trên rất nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, sản phẩm “lá phổi trên vi mạch”, tạo ra các mô phổi có thể sử dụng cho thí nghiệm mà không cần cấy trở lại con người và động vật thí nghiệm. Cũng có kĩ thuật mà thông qua xung điện giúp giữ cân bằng cho người lớn tuổi.
Ở Wyss, một khi ý tưởng sáng tạo được hình thành, nó thường đòi hỏi sự hỗ trợ có khác với những dạng thường gặp trong lớp học. Một giải pháp là Innovation Lab – phòng dành riêng cho những ý tưởng đổi mới ở các trường, trung tâm, phân viện trực thuộc Harvard. Innovation Lab dự kiến sẽ đưa vào hoạt động cuối năm nay.
“Chúng tôi có thể dạy sinh viên về sự đổi mới và về doanh nghiệp, nhưng việc dạy học không chỉ bị giới hạn trong khóa học mà còn được lồng vào cả những hoạt động ngoài giờ” – trích lời giáo sự Tufano tại trường Kinh doanh Harvard (HBS). “Chúng tôi muốn có rất nhiều hoạt động vào các buổi tối hay sáng sớm. Những hoạt động như thế có lẽ sẽ thu hút sự quan tâm đặc biệt”.
Innovative Lab sẽ hỗ trợ các ý tưởng mới của sinh viên cũng như các phòng ban của Harvard, cũng như các ý tưởng nảy sinh trong cộng đồng. Họ sẽ được hỗ trợ nơi làm việc, hỗ trợ gặp gỡ với những nhà tài trợ và cả những buổi tọa đàm với công chúng. Innovative Lab sẽ lo liệu những cuộc trao đổi về vấn đề doanh nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ, và cũng đóng vai trò là tổ chức tư vấn tin cậy cho sinh viên và cả các nhà kinh doanh nhỏ, tất cả nhằm mục tiêu trợ giúp tối đa cho sáng tạo và đổi mới.
Và như vậy, Innovation Lab sẽ giúp cho Đại học Harvard thực hiện nhiệm vụ cao cả của nó đối với thế hệ tương lai.
Chủ tịch Faust, trong diễn văn ngày nhậm chức, đã nhấn mạnh: “Giáo dục, nghiên cứu và giảng dạy luôn hướng tới sự thay đổi, biến đổi các cá nhân khi họ học tập, biến đổi thế giới khi con người thay đổi sự hiểu biết về nó, biến đổi xã hội khi chúng ta chứng kiến hiểu biết được chuyển thành các chính sách … hay được ứng dụng thành các phương pháp điều trị trong y khoa”.

